Chuyên mục: Lịch sử địa phương Khánh Hòa  
Ngày đưa tin: 09/05/2011    

Lễ hội truyền thống ở Khánh Hòa

I. NGUỒN GỐC VÀ GIÁ TRỊ CỦA LỄ HỘI Ở KHÁNH HÒA
   Khánh Hòa là vùng đất có nền văn hóa - lịch sử lâu đời.
   Các thế hệ cư dân Khánh Hòa từ miền xuôi đến miền ngược, từ nông thôn đến hải đảo, từ tộc người Chăm, Rag-lai đến Kinh, Hoa, Ê- đê, K’ho…, trong suốt quá trình hình thành và phát triển đã tạo dựng nên một diện mạo văn hóa Khánh Hòa vừa có nét chung của văn hóa miền Trung nước ta, vừa có bản sắc riêng. Điều đó được phản ánh qua các lễ hội truyền thống.
   Cũng như khắp nơi trên đất nước Việt Nam, lễ hội của người Kinh ở Khánh Hòa thường bắt đầu vào 2 mùa trong năm, đó là mùa Xuân và mùa Thu (còn gọi là xuân thu nhị kì).
   Lễ hội đình làng là một nét đặc trưng tiêu biểu của cư dân nông nghiệp ở Khánh Hòa gắn với công đức Thành hoàng làng, các tiền hiền, hậu hiền khai khẩn đất đai, có công xây dựng làng, lập ấp.
Lễ hội của ngư dân vùng biển, ngoài Thành hoàng làng, còn có thêm tục thờ cá voi (Ông Nam Hải), loài cá thường cứu giúp người bị nạn ngoài biển khơi những khi sóng to gió lớn, đồng thời cho ngư dân được mùa biển.
   Đặc biệt, trong quá trình chung sống, người Việt đã tiếp thu nhiều lễ hội của cư dân bản địa tạo ra các lễ hội văn hóa Chăm - Việt đặc sắc như lễ hội Am Chúa, lễ hội Tháp Bà với tục thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na.
   Cư dân Khánh Hòa còn tổ chức lễ tế tại các miếu, đền để tưởng nhớ những người có công với nước như Trịnh Phong, Trần Quí Cáp....  Ngoài ra, họ còn làm lễ thờ vọng Hùng Vương vào ngày 10 – 3, Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo) vào tháng Tám Âm lịch hàng năm. 
   Theo thống kê của Sở văn hóa – Thể thao và Du lịch, tính đến năm 2010, Khánh Hòa có 494 di sản lễ hội lớn, nhỏ của người Kinh. Trong đó, lễ hội đình làng: 237; lễ hội miếu, lăng: 121; lễ hội chùa: 136.
   Lễ hội truyền thống của người Raglai ở Khánh Hòa được bảo lưu khá nhiều. Đó là các nghi lễ được tiến hành qua từng mốc quan trọng của vòng đời người và vòng đời cây lúa. Các lễ hội này có sức thu hút cộng đồng rất lớn. Từ một lễ cúng của gia đình trở thành ngày hội của cả dân làng.
   Nghi lễ vòng đời người gồm lễ khai sinh đặt tên, lễ cầu cúng đeo vòng, lễ đặt dây thắt nút lãnh thuế đời, lễ cầu cúng Giàng tổ sanh, lễ cưới, lễ đền ơn đáp nghĩa mẹ cha, lễ an táng người chết, lễ bỏ mả... Nghi lễ vòng đời cây lúa có lễ dọn nương rẫy, lễ tra hạt, lễ tuốt lúa, lễ ăn mừng lúa mới...
   Lễ hội ở Khánh Hòa có nhiều nét độc đáo, mang đậm tính dân gian. Các lễ hội đều xuất phát từ lao động, từ phong tục tập quán, không chỉ thuần túy mang yếu tố tín ngưỡng mà còn là hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần, thể hiện truyền thống tôn kính tổ tiên, “uống nước nhớ nguồn”, tưởng nhớ người có công xây dựng, bảo vệ quê hương, đất nước.
   Lễ hội là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại. Các sự tích, câu chuyện trong mỗi lễ hội được truyền lại đã góp phần lưu giữ bản sắc văn hóa của vùng đất Khánh Hòa. Tự hào về truyền thống quê hương, mỗi người chúng ta phải có trách nhiệm bảo tồn và phát huy những yếu tố tích cực của lễ hội.
          Nguồn gốc và giá trị của lễ hội  truyền thống ở Khánh Hòa?
          Vì sao phải có trách nhiệm bảo vệ, phát huy những yếu tố tích cực của lễ hội?

II. MỘT SỐ LỄ HỘI TIÊU BIỂU Ở KHÁNH HÒA
1. Lễ hội Tháp Bà 
   Tháp thờ Thần Pô Inư Nagar, nguyên bản của người Chăm. Sau khi vùng đất này sáp nhập vào Đại Việt, người Việt có tục thờ Mẫu và thần Pô Inư Nagar của người Chăm trở thành Bà Thiên Y A Na Thánh Mẫu của người Việt. Truyền thuyết, sự tích của Bà Thiên Y đã được Việt hóa, đi vào đời sống tâm linh của người Việt mà biểu hiện rõ nét nhất là trong việc thờ cúng Bà, tổ chức các lễ hội.
   Hàng năm, từ ngày 20 đến ngày 23 tháng Ba (Âm lịch), tại Tháp Bà đã diễn ra lễ hội. Lễ hội Tháp Bà – Nha Trang là lễ hội văn hóa dân gian lớn nhất của hai dân tộc Việt – Chăm ở Khánh Hòa và khu vực Nam - Trung Bộ. Lễ hội đã thu hút đông đảo bà con người Việt, người Chăm, người Hoa cùng du khách trong và ngoài nước đến dự.
   - Mở đầu là Lễ mộc dục (Lễ tắm tượng), được tiến hành vào giờ Ngọ (12 giờ trưa), ngày 20 tháng Ba.
   - Lễ tế gia quan: Sau khi dùng nước hương hoa lau sạch tượng Bà, khoác lên Bà xiêm y và mũ miện mới được may theo sắc phong của triều đình. Mặc xong là tuần tế, gọi là tế gia quan. 
   - Lễ cầu quốc thái dân an, tiến hành vào ngày 22 tháng Ba, sau đó là múa lân khai hội. Các đoàn hành hương vào dâng hương hoa cúng Bà cho đến tối. Khoảng từ 23 – 24 giờ có Lễ tế sanh (lễ cúng tạ ân đức Thánh Mẫu) tại Tháp chính. Ngay sau lễ tế sanh là điệu múa bóng truyền thống dâng Bà.

   
 Tắm tượng Bà  Chuẩn bị lễ tế quan gia
   
Khách về dự lễ hội Tháp Bà  Điệu múa Chăm trong đêm lễ hội

   - Lễ Chánh tế, từ 4 giờ sáng ngày 23 tháng Ba. Nội dung chính là thỉnh mời Bà và đón rước thần linh về dự hội, hưởng lễ vật dâng cúng - lễ vật cúng chay. Đây là nghi lễ quan trọng nhất của lễ hội. Lễ tế có đọc văn tế, có nhạc lễ. Sau phần lễ là phần hội: múa bóng, diễn văn nghệ, hát bội, hát tuồng cúng Bà và cho người dân đi lễ hội xem. Lễ hội kéo dài đến ngày 24.
   Lễ hội Tháp Bà Nha Trang hàng năm được tổ chức trọng thể. Tính tôn nghiêm, thành kính của phần lễ, tính sôi động, hào hứng của phần hội đã tạo nên một lễ hội truyền thống đặc trưng của Khánh Hòa. Lễ hội là một biểu hiện về việc giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa phi vật thể gắn liền với di tích, được thể hiện thông qua các nghi lễ truyền thống và các hoạt động văn hóa.
   Lễ hội Tháp Bà đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là một trong 16 lễ hội quốc gia vào năm 2001.
       Vì sao lễ hội Tháp Bà được coi là lễ hội truyền thống đặc trưng của Khánh Hòa?
2. Lễ hội đình làng nông nghiệp

Đình Mỹ Hiệp (TX Ninh Hòa)

   Đình làng là nơi thờ Thành Hoàng làng, các vị tiền hiền, hậu hiền khai khẩn đất đai, có công xây dựng làng, lập ấp và Bà Thiên Y A Na. Một số đình hiện nay thờ cả những người đã hy sinh vì dân vì nước.  Đình làng là thiết chế tín ngưỡng và văn hóa cổ truyền mang đậm bản sắc riêng của người Việt.
Lễ hội đình làng ở mỗi vùng có khác nhau về ngày giờ nhưng nghi thức tiến hành cơ bản giống nhau, gồm có:
   - Lễ rước sắc (nếu sắc thần gửi ở chùa, miếu…): có đội lân đi trước, cờ ngũ sắc và các chấp sự hộ tống Long đình. Đi sau Long đình là ban tế lễ, dàn nhạc. Sau cùng là các bậc phụ lão và dân làng. Các vị trong ban tế lễ phải ăn mặc theo nghi lễ cổ truyền, áo dài, khăn đóng.
   - Lễ cúng cô hồn: tiến hành sau lễ rước sắc, vào lúc chiều tối tại miếu
 cô hồn. Bài cúng có nội dung mời các cô hồn về chứng giám, hưởng lễ và phù hộ cho dân làng có cuộc sống án vui.
   - Lễ thỉnh sanh: diễn ra lúc 0 giờ cùng ngày, hương án đặt trước sân
 đình. Vật tế thần là con heo sống.
   - Lễ tế Thiên Y Ana: tại miếu Bà, lúc 1 giờ sáng. Đây là lễ nghênh
sắc thần từ đình về nhập miếu. Lễ dâng hương có 3 tuần rượu, đọc văn tế, cầu xin Bà mở đức thần minh ban phước lành cho dân…
   - Lễ tế Chánh (tế thần): là nghi lễ quan trọng nhất, tiến hành vào lúc 2 giờ sáng. Sau khi bày đủ lễ, các thành viên ban tế tự và bà con đứng trong không khí trang nghiêm, huyền bí. Sau tuần hương và rượu, chủ xướng đọc văn tế: cầu cho mưa thuận gió hòa, đất nước thanh bình, người người ăn nên làm ra, xóm làng, già, trẻ, an cư, lạc nghiệp…
   - Lễ thứ tế và tôn vương: lễ thứ là lễ hát cúng đình để dâng thần linh. Lễ này diễn ra trên sân khấu nên nội dung tuồng tích phù hợp với nôi dung cầu an cho dân làng. Hát tôn vương cũng là một màn biểu diễn mang lại vui nhộn, rộn ràng của của yếu tố hội làng như múa lân, rồng, cọp, … thể hiện được ước vọng phồn thịnh của dân làng. 
   - Lễ hồi sắc: sau lễ tôn vương là nghi lễ hồi sắc, tiến hành như rước sắc.
   - Lễ tế tiền hiền, hậu hiền: 7 giờ sáng, tế những người có công lập làng, lập đình nhằm ca tụng công đức, bày tỏ lòng biết ơn và cầu xin phước đức cho dân làng. Nghi lễ như tế thần nhưng không có vật sống.

Lễ rước sắc phong Hát bội tại đình làng

   Sau lễ tế này là các trò chơi dân gian như đấu cờ tướng, chọi gà, hát dân ca… tại sân đình suốt ngày.
   Lễ hội đình làng ở Khánh Hòa là dịp để người dân trong làng tưởng nhớ đến tổ tiên, đến những người đi trước đã khai cơ lập nghiệp, khai hoang đất đai, tạo lập làng xóm…, trở thành nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng truyền thống cần được gìn giữ.
3. Lễ hội Cầu ngư – Hát Bá Trạo

Đình Xương Huân (Nha Trang) Lăng Ông Nam Hải (Xương Huân - NT)
   Theo quan niệm của ngư dân, cá Ông là một loài cá thiêng ở biển, rất hiền hòa thường cứu giúp ngư dân trên biển trong cơn bão tố. Cá voi chết trôi dạt vào bờ làng nào thì làng đó lập miếu thờ gọi là Lăng Ông Nam Hải, giữ gìn hài cốt của “Ông”. Dọc theo bờ biển từ Đại Lãnh – Vạn Ninh đến Nha Trang, Cam Ranh nhiều nơi có lăng và đền thờ cá Voi. Hàng năm, cứ đến ngày giỗ hoặc xuân thu nhị kì, lễ tế Ông Nam Hải được tổ chức tại đình làng như một lễ hội. 
   Mở đầu là Lễ rước sắc phong (nếu có), vốn được giữ ở chùa hay miếu thờ riêng. Các vua triều Nguyễn đã ban nhiều sắc phong Thần cho Ông Nam Hải ở những nơi có Lăng thờ. Lễ rước sắc được đông đảo ngư dân tham gia, có cờ lọng, long kiệu, đoàn nhạc lễ, đoàn Hò Bá trạo, những mâm đựng vật tế lễ, trống chiêng, đoàn múa lân. Lễ nghênh Ông (nghênh thủy triều), rước hồn Ông từ biển về chánh điện. Đoàn nghênh thuỷ triều lên thuyền ra khơi để tiến hành lễ. Trên các thuyền có đội múa dâng bông, đoàn Hò Bá trạo, long kiệu bày linh vị Ông, đoàn Chánh tế, bồi tế, các mâm lễ vật ... Các thuyền treo cờ, trang hoàng lộng lẫy, thực hiện lễ múa bóng và múa hát Bá trạo trên một số ghe. Sau khi các ghe trở về đoàn Bá trạo lại diễn lần nữa để mừng Ông về với bà con làng chài. Lễ tế sanh thực hiện ở Lăng Ông sau đó, bắt đầu lúc 10 giờ đêm, có đội Hò Bá trạo múa lúc cúng xong và cuối cùng là Lễ Tế chánh, lễ quan trọng nhất diễn ra vào lúc nửa đêm. Tế lễ có đọc văn tế ca ngợi Ông Nam Hải, cầu xin Ông được bình an trên biển, đánh bắt được nhiều tôm cá, có một đời sống sung túc, đầy đủ hơn... Hò Bá trạo vừa là một trò diễn dân gian, vừa là một nghi thức trong lễ tế.
   Trong trò Hò Bá trạo có các nhân vật: Tổng Lái (chủ thuyền, người cầm lái và lĩnh xướng điều hành cả đội), Tổng Mũi (ở vị trí đầu thuyền, giữ nhịp cho cả trò diễn), Tổng Thương (vị trí giữa khoang, lo tát nước, nấu bếp, là một vai hề dân gian) và đoàn Trạo phu (cầm chèo, tượng trưng lính hầu Ông Nam Hải) có từ 12 đến 16 người. Mỗi nhân vật có cách ăn mặc và hóa trang khác nhau. Hò Bá trạo không chỉ là ca hát hò mà còn có một nghệ thuật múa rất nhịp nhàng, điêu luyện.
   Hát thứ lễ, hát dâng lễ thần linh, do đoàn hát bội thực hiện với tuồng tích thường nói về nhân vật Quan Công trong Tam Quốc Chí. Sau hát thứ lễ là Lễ tôn vương. Đây cũng đồng thời là phần hội. Lễ xong, mọi người vào dâng hương. Các vật tế lễ được làm cỗ đãi dân làng và khách. Những trò chơi giải trí, thể thao đua tài như bơi thuyền, lắc thuyền, đấu bóng chuyền, đánh bài chòi, chơi lô tô ... và hát bội kéo dài và thu hút rất nhiều người đến xem và tham gia.

Lễ rước sắc phong Lễ nghênh Ông Diễn trò Bá trạo

   Nguồn gốc tục thờ cá Ông vốn của người Chăm, người Việt đã tiếp thu trong quá trình giao lưu và trở thành nếp sống của ngư dân. Lễ hội trở thành dịp đền ơn đáp nghĩa theo đạo lí truyền thống Việt Nam. 
          Lễ hội Cầu ngư nhằm mục đích gì ? Hãy kể sơ lược về Hò Bá trạo?
4. Lễ hội  Ăn mừng lúa mới của người Raglai ở Khánh Hòa
   Trong nghi lễ nông nghiệp của người Raglai, lễ hội Ăn mừng lúa mới hết sức quan trọng - được xem như là ngày Tết cổ truyền của dân làng. Thời gian tổ chức bắt đầu từ tháng Mười Một đến giữa tháng Giêng âm lịch, cũng là thời gian sau thu hoạch. 
   Người Raglai có tín ngưỡng đa thần, tin rằng, cây cối đều có hồn và được thần linh cai quản. Các vị thần đó đã cho họ cuộc sống tốt hơn. Vì thế, sau khi thu hoạch, bao giờ họ cũng làm lễ cúng tạ thần Lúa – Bắp và Ông Bà tổ tiên đã phù hộ rồi mới ăn. Trong lễ cúng còn cầu xin cho con cháu trong làng mạnh khỏe, mùa màng năm sau bội thu hơn năm trước.
   Lễ hội do từng gia đình tổ chức, qui mô lớn hay nhỏ phụ thuộc vào kết quả thu hoạch mùa vụ và điều kiện kinh tế. Lễ hội thường từ 1 - 3 ngày.
Các bước lễ - hội được tiến hành như sau:
   - Trước hết là lên rẫy (chọn rẫy tốt nhất) làm lễ cúng Thần Lúa, “xin rước Thần Lúa về nhà”. Lễ cúng này đơn giản, lễ vật là trầu cau, cơm, trứng luộc và rượu. Sau khi cúng, mọi người cùng nhau tuốt lúa, làm sạch cho vào gùi và rước Thần Lúa về nhà.  
   -  Lễ Ăn mừng lúa mới là lễ chính được tổ chức linh đình, rộn ràng (những gia đình được mùa to, cúng lớn tổ chức tại nhà dài). Bà con trong thôn giúp chuẩn bị gạo, nếp, rau củ, mổ heo, gà, nấu nướng. Đặc biệt là chuẩn bị vật liệu cho việc nấu món canh Bùi. Đó là món truyền thống không thể thiếu trong lễ cúng để dâng Thần Lúa – Bắp và Ông Bà. 
   Canh Bùi có nguyên liệu từ gạo của lúa mới và lá cây Bột ngọt giã nhuyễn, nấu chung với rau Rịa xắt nhỏ. Canh Bùi khi chín sền sệt, có mùi vị béo, thơm của gạo, ngọt của rau.

Thu hoạch lúa sau lễ cúng Thần lúa

   Thầy cúng hành lễ có sự chứng giám của gia đình và bà con trong thôn.  Các nghi thức cúng được tiến hành rất cẩn trọng.
   Sau phần lễ, chủ nhà thường bưng chén rượu đến mời từng người một. Mọi người cùng nhau ăn, uống, chúc cho nhau những điều tốt đẹp nhất. Rượu càng vào thì các điệu hát A - lâu, Ma – Diêng, nhịp chiêng Sa – va – lâu, Ato – pa – krúc..., càng sôi nổi. Thanh niên trong làng còn đốt lửa trại, cùng nhau ca hát, nhảy múa suốt đêm. Cứ như vậy, mùa lễ hội của người Raglai có khi kéo dài đến cả tháng, các làng (Plơi) luôn rộn rã tiếng cồng chiêng.

Mời rượu và hát A-lâu

   Lễ Ăn mừng lúa mới của đồng bào dân tộc Raglai diễn ra hằng năm sau mỗi vụ thu hoạch là một nét văn hóa đẹp trong đời sống tinh thần của người Raglai.
  Vì sao lễ hội Ăn mừng lúa mới của đồng bào dân tộc Raglai được coi là  một nét văn hóa đẹp trong đời sống tinh thần?

CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP

1. Lễ hội là gì? Lễ hội xếp vào loại di sản nào?
2. Hãy kể tên những lễ hội truyền thống ở Khánh Hòa mà em biết.
3. Nghi thức của lễ hội thường có mấy phần? Nghi thức chính trong lễ hội Tháp Bà là gì?
4. Sưu tầm tranh ảnh về các lễ hội ở Khánh Hòa.


Các tin khác :
General Certificate of Secondary Education
 
Tin tức nổi bật
 
 
Số lượng truy cập
3513437
 
 
Website liên kết
 
 
THÀNH VIÊN ĐĂNG NHẬP
 
 
 
 
 

 

 

[ Back to top ]


Giới thiệu   |   Góp ý - Liên hệ   |   Liên hệ quảng cáo   |   Tin theo ngày

 

Bản quyền thuộc Sở GD&ĐT Khánh Hòa
Địa chỉ: Khu liên cơ II. Số 4 Phan Chu Trinh - Nha Trang - Khánh Hòa
Điện thoại : (058)3822158 - (058)3817310
Fax : (058)3829234
Email : vp@khanhhoa.edu.vn